Thứ Bảy, 9 tháng 12, 2017

Trời sinh Võ Nguyên Giáp để làm gì?



Thuận Văn 
Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh TLG
Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh TLG
Võ Nguyên Giáp đã về với đất giữa những tiếng tung hô về “thiên tài quân sự” và “phẩm cách thánh nhân” của ông, giữa những lời phân trần biện minh cho thất bại chính trị của ông, cả những nhận xét điềm đạm hay phê bình gay gắt nhất đối với ông. [1] Không nhất thiết phải đóng góp thêm cái không khí ồn ào khi “tang lễ quốc gia” sặc mùi đồng bóng vừa mới bị cắt ngang một cách chưng hửng ngay tại thủ đô để tiếp khách giống như là… chạy cưới, tôi vẫn cảm thấy thiếu thiếu, vẫn còn có một câu hỏi chưa có lời đáp ở nhân vật này. [2]
Câu hỏi đó là: “Trời” sinh ra Võ Nguyên Giáp để làm gì?
Đã ca ngợi ông là một “thiên tài quân sự”, là “thánh nhân” thì phải thừa nhận chuyện “Trời sinh”: sinh ông ra, rồi phú cho ông một “thiên tài”, một phẩm cách “thánh nhân”, ắt hẳn “Trời” đã sắp đặt sẵn cho ông một chương trình, một mục đích và ý nghĩa nào đó, cho đời.
Như thế thì cái ý nghĩa “thiên mạng” đó phải thể hiện trong sự nhất quán, trong mối quan hệ tương liên giữa những chặng đời mâu thuẫn mà những kẻ xưng tụng ông vẫn ấm ức gọi là “nghịch lý”, cái “nghịch lý” của cuộc đời khởi đầu vinh quang trong vai trò “cầm quân” tại chiến trường Việt Bắc để rồi tiếp tục một cách ê chề với những tháng năm “cầm quần” giữa những mưu mô chính trị hậu cung tại Hà Nội, nói theo một câu ca dao hiện đại. [3]
Sự nhất quán giữa hai thái cực “cầm quân” và “cầm quần” ấy có thể nhìn qua học thuyết của Thomas Malthus, nhưng đầu tiên là “thiên tài” và phẩm cách của ông Giáp.
Chúng ta thán phục một người là có “tài” khi kẻ đó làm được những điều mà kẻ khác làm được nhưng làm bằng cách nhanh hơn, với cái giá rẻ hơn mà có thể đem lại kết quả hay hơn. Chúng ta ngưỡng mộ một bậc “thiên tài” khi kẻ đó làm được những điều độc sáng mà chưa ai từng làm được hay, không chỉ hơn khối kẻ bình thường khác qua cách làm nhanh nhất, bằng cái giá rẻ nhất nhưng mang lại kết quả mỹ mãn nhất mà còn có thể, qua cách ấy hay việc ấy, để lại một dấu ấn hay những ý nghĩa khó phai nhạt qua những ảnh hưởng đến người khác, ít ra là trong lĩnh vực của mình.
Nếu “thiên tài” của Võ Nguyên Giáp kết tinh ở chiến thắng Điện Biên Phủ “lẫy lừng” thì cái tài trời phú ấy không thể chấm hết sau phút giây bắn pháo hoa mừng chiến thắng mà còn phải để lại những ý nghĩa “lẫy lừng” nào đó, ít nhất là cho riêng vùng đất ấy, và ít ra là trong đường lối quân sự sau đấy.
Ông là “thiên tài quân sự”, thế nhưng với những đồng chí thuộc vai vế đàn em “thiên tài” ấy chẳng có một tý ty trọng lượng, chẳng để lại một dấn ấn hay ý nghĩa hay ảnh hưởng nào, ngay trong lĩnh vực quân sự. Gạt ông ra ngoài trong những quyết định trọng đại về chiến tranh, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã không đếm xỉa gì đến “thiên tài” của ông. Chiến dịch Mậu Thân, họ chỉ báo trước có một ngày. Chiến dịch Quảng Trị, khi xương cốt bộ đội trắng cả đáy dòng Thạch Hãn, họ cũng bỏ ngoài tai những ý tưởng chiến thuật của ông. [4]
Và “chiến thắng lẫy lừng” ấy cũng chẳng mang lại một ảnh hưởng tích cực nào cho những vùng đất hay con người đã trực tiếp và gián tiếp trả giá. Không nói xa xôi đến “đất nước” hay “dân tộc”, gần ba phần tư thế kỷ sau ngày chiến thắng, những “an toàn khu”, những “căn cứ địa”, những “chiến khu gió ngàn” nuôi dưỡng nên chiến thắng ấy vẫn tiếp tục là những vùng đất đói nghèo nhất nước và, phần đông, thế hệ trẻ lớn lên ở đó, muốn đổi đời thì chỉ có thể, hoặc ngược sang Lào theo những “cung đường ma túy”, hoặc bỏ xuôi làm thuê hay làm đĩ. [5]
Giới hâm mộ Võ Nguyên Giáp viện dẫn sự thất thế chính trị để biện minh cho sự vô can của ông trước giá đắt trong Mậu Thân 1968 và Quảng Trị 1972-1973, thế nhưng cái giá của Điện Biên Phủ 1954 đâu có rẻ chút nào? Bao nhiêu nông dân cầm súng đã gục ngã, bao nhiêu tài nguyên đã tiêu tốn và những món nợ “xã hội chủ nghĩa anh em” với hậu quả nhãn tiền về sự phụ thuộc? Mà, xét cho cùng, nếu tướng tài là vị tướng không cần đánh mà có thể lấy được thành thì, chẳng cần đến những “chiến công chấn động thế giới” kiểu ấy, những cựu thuộc địa có cùng hoàn cảnh tại Á châu không chỉ đã giành lại độc lập với cái giá rẻ hơn mà, hơn thế nữa, còn vươn tới những kỳ tích hậu thuộc địa lẫy lừng hơn, rất nhiều.
“Chiến thắng lẫy lừng” ấy là một món hàng xa xỉ, cực kỳ hoang phí, không chỉ hoang phí bằng xương bằng máu mà còn hoang phí bằng sự tụt hậu và phụ thuộc, phụ thuộc ngay vào kẻ thù truyền kiếp, kẻ thù đã xâm lăng đất nước chúng ta nhiều lần hơn ai hết, chiếm đóng đất nước lâu dài hơn ai hết.
Cái chiến thuật thí thịt người chẳng có gì độc đáo sáng tạo về mặt quân sự của ông Giáp, gợi nhắc một giai thoại về Napoléon Bonaparte khi bị một viên thống chế dưới quyền thắc mắc trước một quyết định thí quân: “Chỉ một đêm của Paris là đủ”. Chỉ một đêm thôi, và riêng tại Paris thôi, sẽ có bao nhiêu cặp nam nữ cuồng nhiệt quấn quýt vào nhau, sẽ có bao nhiêu tinh trùng bắn ra, sẽ có bao nhiêu tinh trùng tiến về bắt rễ trong buồng trứng để từ đó mở ra một mầm sống mới và, với Napoléon, thế là đủ. Đủ để bù lại những sinh mạng bị ông ta vung vãi trước trận địa mà đối phương đã bày bố sẵn sàng.
Như thế phải có một điểm nhất quán nào đó trong “vinh quang” của vị “anh hùng chiến thắng” vào năm 1954 với sự cam chịu thụ động đến bạc nhược của vị “thống chế đặt vòng” vào năm 1983, khi ông ta trở thành “Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Dân số và Sinh đẻ có kế hoạch”. [6]
Để hiểu được sự nhất quán ấy, có lẽ, phải nhắc qua học thuyết của Thomas Malthus (1766 – 1834), một giáo sĩ và là một nhà kinh tế học nối tiếng người Anh.
Năm 1798 Malthus xuất bản cuốn khảo luận An Essay on the Principle of Population (Một tiểu luận về nguyên tắc dân số) và, thế là, những lời công kích nổi lên. Để đáp trả những lời chỉ trích và củng cố lý thuyết của mình, từ năm 1799 đến 1802 Malthus thực hiện chuyến du khảo năm năm xuyên suốt Âu châu để rồi tái bản quyển sách trên với sự minh định rằng quan điểm chính vẫn không hề thay đổi. Vẫn bị công kích dữ dội nhưng vẫn thu hút sự chú ý rất đặc biệt và cuốn sách ấy của Malthus đã đuợc tái bản đi, tái bản lại nhiều lần.
Điều khiến Malthus vừa bị công kích vừa lôi cuốn sự chú ý là cách phân tích nguyên nhân của nạn bần cùng như là hậu quả tất yếu của tình trạng quá tải dân số. Theo
Malthus thì dân số tăng theo cấp số nhân trong khi kinh tế chỉ tăng trưởng theo cấp số cộng, và khi nền kinh tế không đáp ứng nổi nhu cầu của một dân số quá đông thì bần cùng là hệ quả tất yếu. Vấn đề là làm thế nào để giải quyết nạn ấy và, theo Malthus, khi con người bó tay, không “giải quyết” được sự bùng nổ dân số, thì “tự nhiên” sẽ bắt tay thực hiện. Khảo sát thật kỹ các xã hội trong suốt chiều dài lịch sử của nó, Malthus đi đến kết luận rằng các biến cố lớn liên quan đến nạn đói, thiên tai, bệnh dịch và chiến tranh đều gắn liền với những “khó khăn về dân số”.[7]
Hẳn nhiên học thuyết của Malthus không hoàn toàn đúng và không phù hợp với thực tế của hôm nay sau bao nhiêu bể dâu về kinh tế về khoa học và kỹ thuật thế nhưng mối ám ảnh “khó khăn dân số” ấy vẫn tiếp tục hiệu lực, vẫn dai dẳng đeo bám nhân lọai, thậm chí từng ám ảnh cả nhà thơ Tú Xuơng của chúng ta, qua bài thơ “Chúc Tết”: Lẳng lặng mà nghe nó chúc con/ Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn./ Phố phường chật hẹp, người đông đúc,/ Bồng bế nhau lên nó ở non
Ba năm sau khi Tú Xương lìa đời thì Võ Nguyên Giáp mới chào đời. Và bốn mươi bốn năm sau khi ông Giáp chào đời thì ám ảnh ấy đã phần nào giải quyết bằng chiến thuật thí thịt người tại Điện Biên Phủ cùng muôn vàn những trận đánh tương tự trước đó hay sau đó với những quy mô nhỏ hơn. Nếu chiến tranh, theo cái nhìn của Von Clausewitz, là sự “tiếp nối của chính trị bằng những phương tiện khác” thì, phải chăng, “người hùng chiến tranh” Võ Nguyên Giáp, như một kẻ hoàn toàn thất bại về chính trị, chính là hiện thân của sự “can thiệp của tự nhiên” để giải quyết những “khó khăn về dân số”?
“Tự nhiên”, ở đây, nên hiểu là “Trời” và nếu nhìn như thế thì sẽ thấy ngay cái mẫu số chung hay mối quan hệ “biện chứng” giữa đoạn trước và đoạn sau của cuộc đời ông. Cơ hồ “Trời” sinh ông ra là để giải quyết những khó khăn đã ám ảnh Malthus. Đoạn đầu đời xông xáo trên mặt trận, ông “giải quyết khó khăn” bằng cách đẩy những mầm sống đã đạt tuổi trưởng thành vào trận địa theo chiến thuật thí thịt người. Nửa đời sau thầm lặng trong nền chính trị hậu trường, ông “giải quyết khó khăn” với những cái bọc condom, những sợt dây thắt ống dẫn tinh và hay những vòng tránh thai để phong toả, ngăn không cho tinh trùng tiến về với trứng.
Giới hâm mộ xem đó là “thăng trầm” của đời ông Giáp và ca tụng đó là chữ “nhẫn” của bậc thánh nhân, là “phong cách trí thức” của một tướng lĩnh “có văn hoá”. Nhưng tính cách của bậc trí thức không chỉ hình thành từ việc đọc sách, việc làu thông kim cổ hay, giữa một đám lãnh tụ công nông đàn gảy tai trâu, “biết đánh cả đàn pinao”. Và, ngoài chữ “nhẫn”, tiếng Việt còn có thêm từ “khí tiết”. Nếu “nhẫn” không có nghĩa là bạc nhược thì “phong cách trí thức” không có nghĩa là phải giữ sự mềm mỏng và thụ động của con người chỉ biết mỗi một việc đọc sách. Mềm mỏng, hay cứng cỏi, người trí thức phải quyết liệt, không lùi bước, không khoan nhượng để bảo vệ lẽ phải và sự thật. Đó là thái độ của Emile Zola khi lên tiếng “Tôi kết tội” để bảo vệ Alfred Dreyfus, viên sĩ quan gốc Do Thái bị cả guồng máy quân sự và chính trị Pháp toa rập để vu khống tội gián điệp. Dreyfus chẳng can dự gì đến Zola và nhà văn này lên tiếng là để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ sự thật, nhưng còn ông Giáp? Như một “đại tướng – trí thức – anh hùng”, ông đã làm gì để bảo vệ lẽ phải và sự thật khi chính những tướng lĩnh và sĩ quan tâm phúc của mình như Đặng Kim Giang, Lê Liêm hay Đỗ Đức Kiên bị vu khống là gián điệp?
Không chứng tỏ một nỗ lực tối thiểu để bảo vệ lẽ phải và sự thật, để trọn chữ nghĩa tình với những người từng vào sinh ra tử với mình thì có thể nào đạt đến chuẩn mực xử sự của bậc thánh nhân? Những kẻ chỉ trích vin vào điều này để cho rằng ông hèn nhát. Thì đó cũng là một cách nhìn nhưng từ góc độ của Malthus và ý nghĩa “Trời sinh” thì chẳng có gì là anh hùng hay ươn hèn trong cái cuộc đời đó cả. Trời sinh ông để “giải quyết những khó khăn” về dân số và ông phải sử dụng bất cứ vai trò nào có thể sử dụng được để thực hiện sứ mạng đó theo đúng nguyên tắc “Cứu cánh biện minh cho phương tiện” mà Niccolò Machiavelli đã nêu ra trong The Prince (Quân Vương).
Cuốn sách được xem là kinh điển về chính trị thực dụng này được xuất bản năm 1532, năm năm sau khi Machiavelli qua đời. Trong công trình mỏng tang của mình, Machiavelli đã nhấn mạnh rằng, trong chính trị, yếu tố hiệu năng và thực tiễn phải được đặt lên lên trên giá trị đạo đức hay các khái niệm trừu tượng, và để sống còn, những lãnh tụ chính trị phải biết cách học hỏi từ loài dã thú:
“Bậc quân vương phải học hỏi từ bản chất của loài thú để kết hợp sức mạnh của con sư tử với sự tinh ranh của loài cáo. Sư tử không thể tự bảo vệ mình trước các cạm bẫy nhưng cáo thì không thể chống lại loài chó sói. Vì thế, cần phải là cáo để nhận ra những cạm bẫy và là sư tử để dọa chó sói.” [8]
Nếu “thiên tài quân sự” là kẻ phải thể hiện sự dũng mãnh của loài “sư tử” thì ông, “Thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp”, còn có nhiều lợi thế trên đấu trường chính trị hậu cung khi đã từng là “cáo” và cũng từng là “sói”. Trước khi thực sự chống lại thực dân ông đã đóng vai trò chủ chốt trong những cuộc thanh trừng khốc liệt nhắm vào các đảng phái quốc gia chỉ để giành lấy độc quyền chống thực dân, nghĩa là từng giăng bẫy như “cáo”. Trước khi là Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng Lư lệnh Quân đội, ông đã là Bộ trưởng Nội vụ đầu tiên của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và, trong vai trò ấy, đã ký nghị định để chống lại cái gọi là các tổ chức quốc gia “phản động” tháng Chín năm 1945, nghĩa là đã vồ mồi như “sói”.
Đã là “sư tử”, đã từng giăng bẫy như “cáo” và từng vồ mồi như “sói”, tại sao ông có thể dễ dàng đầu hàng trước những đồng chí chỉ đáng mặt là “cáo” hay “sói” như Lê Duẩn và Lê Đức Thọ?
Cũng chẳng có gì đáng gọi là “nghịch lý” trong mối quan hệ tưởng là mâu thuẫn này cả khi một “đại tướng anh hùng” dễ dàng bỏ rơi đồng đội, dễ dàng nhìn những ý tưởng mà mình tin là có lợi cho đất nước bị vứt bỏ vào sọt rác mà, thậm chí, còn là một sự nhất quán và thông suốt nếu nhìn theo những góc độ nói trên. “Trời” sinh ông thế và, cơ hồ, cả trong cái thời sung mãn nhất về thế chất và trí lực của mình, ông, “Đại tướng Võ Nguyên Giáp”, chưa bao giờ cảm thấy có đủ tự tin với “thiên tài”, với “thiên mạng” của bậc anh hùng cứu thế trong tầm vóc của một con sư tử của mình. “Trời” không sinh ông để sống trọn vẹn ý nghĩa của một con người huyền thoại. Trời sinh ông ra để giải quyết những “khó khăn về dân số”.
“Thiên mạng” của ông là giải quyết những “khó khăn về dân số” còn chế độ toàn trị thì đang lúng túng với “thiên mạng” của mình trước một “dân số khó khăn”. Lúng túng vì người dân ngày càng trưởng thành hơn. Lúng túng vì càng ngày càng lộ liễu cái bản chất phản động và thối nát nhiều hơn. Thế là, sau bao nhiêu năm bị bỏ quên, phải tìm quên trong thiền và trong kinh Phật, ông được vực dậy, được công kênh như
một huyền thoại chiến tranh. Ông càng rũ xuống, càng vật vờ trong đời sống thực vật trên giường bệnh bao nhiêu, cái chiến dịch phục dựng huyền thoại chiến tranh ấy càng rầm rộ bấy nhiêu.
Nhưng, luôn luôn, cái mà nền toàn trị cần là những huyền thoại chỉ để thờ, thờ sống hay thờ chết. Nó chỉ cần cái bài vị, cái vừng sáng lung linh nhang nến quanh một nhân vật để công chúng kính cẩn gập mình xuống lạy chứ không phải những giá trị thực tiễn mà kẻ đó có thể đóng góp. Hồ Chí Minh cũng vậy mà Võ Nguyên Giáp cũng vậy. Cũng chỉ đơn thuần là hai cái bài vị để cho công chúng lạy, lạy sống hay lạy chết. Thập niên 60, hệ thống quyền lực đó vừa thờ sống Hồ Chí Minh, vừa gạt ông qua một bên. Chỉ cách đây mấy năm thôi, hệ thống đó cũng vừa rầm rộ “lạy sống” ông Giáp, vừa thẳng tay vứt vào sọt rác những “tâm can” mà ông trút cạn khi hệ thống quyền lực tự đâm vào cổ mình bằng cách mời mọc kẻ thù truyền kiếp của dân tộc đến cắm rễ ngay tại vùng đất chiến lược. [9]
Những kẻ hâm mộ ông lấy làm ấm ức vì trong bài điếu văn chính thức đọc trong tang lễ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã không đề cập về ông như một “anh hùng” mà chỉ gọi suông là “nhà lãnh đạo uy tín.” Theo họ ông là “anh hùng dân tộc”, là “hồn thiêng sông núi” v.v… và, theo những dòng người rồng rắn đưa tang, những mỹ từ này đã rồng rắn nối đuôi nhau trên các phương tiện truyền thông để tấn công vào suy nghĩ của công chúng, để bám vào suy nghĩ của thế hệ mới lớn. [10]
Xung tụng ông thế nào, là “thiên tài quân sự”, là “bậc thánh nhân” v.v… là tùy bởi việc đó quyền, là năng lực nhận thức, là trí tuệ của từng người. Nhưng nếu gọi một nhân vật như thế – “sư tử” không ra “sư tử”, “sói” không ra “sói” và “cáo” không ra “cáo” – là “hồn thiêng sông núi” hay “anh hùng dân tộc” thì quả là một sự báng bổ và xúc phạm. Nó báng bổ tổ tiên. Nó xúc phạm đến sông núi thiêng liêng. Nó xúc phạm những anh hùng dân tộc như Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt. Lê Lợi hay Nguyễn Huệ v.v…
Và nó xúc phạm đến cả chúng ta, những người đang mang ơn những người con kiệt xuất của dân tộc ấy, những anh hùng đã thực sự bảo vệ đất nước trước dã tâm nghiền nát và nuốt chửng của kẻ thù truyền kiếp, cái kẻ thù đang vừa kêu ca đòi chia chác thứ “vinh quang” xây trên xác người ở Điện Biên Phủ, vừa vận dụng cả trăm ngàn trò trí trá để bóp nghẹt môi trường và nguồn sống của chúng ta, dồn ép chúng ta vào cảnh kiệt quệ và chết dần chết mòn, cũng với dã tâm nghiền nát và nuốt chửng. [11]
17.10.2013
Chú thích
[1] Hiện có rất nhiều ý kiến tôn sùng Võ Nguyên Giáp là bậc “thánh nhân”, thí dụ như: Nguyễn Như Phong, “Người là bậc Thánh Nhân!” [2] Tang lễ kết thúc lúc 5 giờ chiều tại Quảng Bình nhưng trước đó, vào buổi trưa, cờ tang ở Hà Nội đã được tháo bỏ để đón Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường.
[3] Có thể kể mấy câu liên quan đến việc Võ Nguyên Giáp nhận chức vụ này:
Năm xưa đại tướng cầm quân
Năm nay đại tướng cầm quần chị em Hay:
Năm xưa đánh giặc công đồn
Nay về quản lý cái l** chị em
[4] Có rất nhiều tài liệu về việc này, trong đó phần cô đọng nhất là chương viết về Võ Nguyên Giáp trong cuốn Bên thắng cuộc II: Quyền bính, của Huy Đức.
[5] Có thể tham khảo một số bài báo tiêu biểu: – Hải Chung, “Xóa đói, nghèo ở chiến khu xưa” – Nguyễn Đăng Tấn, “Mùa Thu cách mạng, về thăm chiến khu xưa” -“Na Ư- tụ điểm buôn bán cái chết trắng”.
[6] Câu này liên quan đến việc Tố Hữu trở thành Phó Thủ tướng đặc trách kinh tế: “Nhà thơ làm kinh tế, thống chế đi đặt vòng”.
[7] Hẳn nhiên tính toán của Malthus không hoàn toàn phù hợp với thực tế và trong hai thế kỷ sau đó tốc độ tăng dân số vẫn xảy ra mà không bị cản trở bởi nghèo đói tại các nước kỹ nghệ như Âu châu. Một trong những người chỉ trích Malthus kịch liệt nhất là Friedrich Engels – đồng chí kiêm môn đệ của Karl Marx. Theo ông tổ số hai của chủ nghĩa cộng sản thì Malthus đã không thấy được các yếu tố như quá trình tích sản, tích lũy giá trị thặng dư của giai cấp bóc lột, cũng không thấy được vài trò của khoa học v.v…
[9] Võ Nguyên Giáp đã ba lần viết thư gởi Bộ Chính trị đề nghị chấm dứt dự án bauxite Tây Nguyên, tuy nhiên lời ông bị gạt qua một bên, thậm chí những kẻ có trách nhiệm đã không thèm trả lời.
[10] Thí dụ các bài báo hay bản tin: – Thùy Linh, “Đại tướng ơi! Người đã thành hồn thiêng sông núi” – Hoàng Điệp – Lam Giang – TTXVN, “Quốc tang anh hùng dân tộc Võ Nguyên Giáp”.
[11] Có nhiều tài liệu từ phía Trung Quốc nhấn mạnh vao trò của các cố vấn Trung Quốc, thí dụ: “Hồi kí cố vấn Trung Quốc (3) -Vai trò của Vi Quốc Thanh (Wei Guoqing) qua lời kể của viên thư kí” [Bản dịch của Dương Danh Dy].
© 2013 Thuận Văn & pro&contra 

Thứ Ba, 22 tháng 8, 2017

Những điều trao đổi nhân vụ Trịnh Xuân Thanh

Xa Tổ quốc gần nỗi đau Tổ quốc
Trải nỗi lòng mong nhẹ bớt nỗi đau
              Hoàng Xuân Phú




Cái tên Trịnh Xuân Thanh (TXT) sẽ đi vào lịch sử. Song không phải vì tội "cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng", hay vì tội tham nhũng. Dù đã gây ra những hậu quả rất tệ hại, nhưng trong hàng ngũ các đồng chí thi đua phá phách - vơ vét, thì tầm vóc của Thanh vẫn còn khá khiêm tốn. So với các đại ca thì Thanh mới như"trẻ nhỏ đua đòi". Còn so với mấy bố già thì Thanh càng chưa thể sánh ngang vai trên con đường hại dân hại nước. Bởi thế, khi các đại ca và bố già vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, thậm chí còn vắt vẻo trên đỉnh cao quyền lực, thì chắc Thanh cũng khó cam lòng "đầu thú".
Thiên hạ sẽ dùng tên TXT để đề cập một diễn biến hiếm có trong lịch sử ngoại giao, mà đọng lại là hình hài đích thực của kiểu pháp quyền sản xuất tại Việt Nam. Vốn dĩ, thi hành công vụkiểu giang hồ là chuyện thường ngày ở xứ "dân chủ vạn lần tư bản". Song lần này đặc sản"luật rừng" được xuất khẩu sang khối Cộng đồng chung Châu Âu, và công diễn giữa trung tâm Thủ đô Berlin của Cộng hòa Liên bang Đức.
Sau mười ngày điều tra và cân nhắc thận trọng, ngày 2/8/2017 Bộ Ngoại giao CHLB Đức đã rathông cáo báo chí, trong đó khẳng định:
"Việc bắt cóc công dân Việt Nam Trịnh Xuân Thanh trên lãnh thổ Đức là sự vi phạm trắng trợn chưa từng có đối với luật pháp Đức và luật pháp quốc tế."
"Chính phủ Liên bang Đức đòi hỏi, rằng ông Trịnh Xuân Thanh có thể quay lại Đức ngay lập tức, để cả đề nghị dẫn độ và đơn xin tỵ nạn đều có thể được xem xét đến cùng đúng theo trình tự pháp lý."
"Liên quan đến phát biểu của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Đức xung quanh vụ việc Trịnh Xuân Thanh, tôi lấy làm tiếc về phát biểu ngày mùng 2 tháng 8 của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Đức."
Vâng, "tiếc" về "phát biểu của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Đức". Như thể phật ý, vì phát biểu của phía Đức có điều gì sai trái, hay không hợp lý. Khi phóng viên nước ngoài hỏi "Việt Nam có xác nhận lời cáo buộc bắt cóc Trịnh Xuân Thanh không", thì bà Hằng trích dẫn:
"Theo thông báo ngày 31 tháng 7 của Bộ Công an Việt Nam thì ông Trịnh Xuân Thanh đã ra trình diện và đầu thú."
Vậy là nhà cầm quyền Hà Nội không trực tiếp bác bỏ cáo buộc bắt cóc TXT của phía Đức (vì"ra trình diện và đầu thú" không có nghĩa là trước đấy không bị bắt cóc). Song cũng không công khai thừa nhận và chẳng có hồi đáp chính thức về cáo buộc của phía Đức. Có lẽ vì thế,Bộ trưởng Ngoại giao Đức Sigmar Gabriel đã phải nhấn mạnh (trong bài trả lời phỏng vấn đăng trên báo Stuttgarter Nachrichten ngày 6/8/2017):
"Hành vi của mật vụ Việt Nam trên lãnh thổ Đức là hoàn toàn không chấp nhận được. Tôi muốn nói hết sức rõ ràng rằng: Chúng tôi không bao giờ chấp nhận trò ấy, và cũng sẽ chẳng để yên việc ấy."
Trong khi nhà cầm quyền Hà Nội làm thinh, thì dư luận người Việt trên thế giới ảo cực kỳ sôi động. Người thì phê phán chính quyền Hà Nội, người lại tỏ ra đồng tình. Số đồng tình dựa trên niềm tin chân chất, rằng việc bắt cóc TXT (nếu có) là cần thiết cho nỗ lực chống tham nhũng. Và rằng động cơ của thế lực ra lệnh bắt cóc TXT chỉ đơn thuần là nghiêm trị kẻ tham nhũng. Còn tính hợp pháp của hành vi bắt cóc ư? "Mục đích biện minh cho phương tiện." Vả lại, "thế giới" cũng làm thế cả. Có điều, khi xòe tay điểm danh để chứng minh hùng hồn, rằng việc chính quyền một nước tổ chức bắt cóc ở nước ngoài vì mục đích tử tế là thông lệ quốc tế, thì chỉ duỗi được vài ngón. Còn ngón tiếp theo thì tần ngần, chẳng biết chỉ về đâu. Thử hỏi, bắt cóc kiểu ấy là hành xử bất thường của vài siêu cường, mà cộng đồng đành phải cắn răng chịu đựng? Hay của nhà nước đại diện cho dân tộc đã từng bị vùi dập trước sự làm ngơ của các cường quốc, tới mức hậu thế vẫn còn cảm thấy mắc nợ? Hay của mấy nhà cầm quyền mà thế giới văn minh phỉ nhổ?
Điều đáng bàn là có "một bộ phận không nhỏ" chỉ trích mạnh mẽ phản ứng của phía Đức. Họ cho rằng phía Việt Nam hành động như vậy là đúng, nên phía Đức phát ngôn như vậy là sai. Thậm chí cho rằng "Đức... dung dưỡng cho một tên tội phạm như Trịnh Xuân Thanh", và lên án "thói đạo đức giả của nhà cầm quyền Berlin". Những chỉ trích nặng nề kiểu ấy không chỉ được đăng trên các trang cá nhân, mà trên cả báo quốc doanh, chẳng hạn bài "Vụ Trịnh Xuân Thanh về nước đầu thú: Bộ Ngoại giao Đức hồ đồ hay mua phiếu?"– đăng ngày 18/08/2017 trên Tuần báo Văn nghệ của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.
Thật khó dung hòa giữa tư duy pháp quyền "vùng sâu vùng xa" với tư duy pháp quyền kiểu Đức. Vốn cả đời chung sống với luật rừng và tiếp xúc với lối hành xử giang hồ của quan chức bản địa, nên tưởng rằng như vậy mới hợp lẽ tự nhiên. Thành thử khó chấp nhận lối tư duy pháp lý xa lạ, máy móc của "bọn Tây". Cũng giống như trai bản, quen đi rừng phạt cây mà tiến, nay lạc vào đô thành thì khó chịu với đèn đỏ đèn vàng, bởi cho rằng chúng cản trở giao thông.
Nếu những ý kiến ấy chỉ thể hiện tư duy quần chúng, thì phải tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của họ. Nhưng trong số đó có cả ý kiến từ giới luật sư. Với những lập luận pháp lý tưởng chừng rất vững chắc, nhưng tiếc rằng lại sai. Vì vậy, tôi viết bài này để trao đổi, với hy vọng làm rõ hơn một số cơ sở pháp lý của vụ việc, để từ đó mà hiểu đúng và có cách ứng xử hợp lý.

Thứ Ba, 9 tháng 5, 2017

Học được gì qua vụ Đinh la Thăng

Không lẽ trong các lần bổ nhiệm trước, đặc biệt lần bổ nhiệm ông Thăng vào Bộ Chính trị và vào ghế Bí thư Thành ủy HCM đầu năm 2016, lãnh đạo đảng và Ban Tổ chức Trung ương không biết gì về con số thua lỗ, thất thoát của PVN?
– Đã có nhiều vụ thua lỗ còn lớn hơn tại PVN rất nhiều và có những người đáng phải chịu trách nhiệm còn lớn hơn ông Thăng rất nhiều lại không bị lôi ra kỷ luật. Đáng kể nhất là người trách nhiệm sự sụp đổ của toàn khối tập đoàn kinh tế và tổng công ty, đã đốt sạch ngân khố quốc gia và còn cõng thêm hàng trăm tỉ vay nợ quốc tế. Tại sao không lôi những người đó ra?
– Quan trọng hơn nữa, ai cũng biết trong hệ thống cơ chế hiện nay, những vụ đầu tư trị giá hàng trăm triệu đến tỉ USD chưa bao giờ là quyết định của cá nhân thủ tướng, hay cá nhân 1 bộ trưởng, chứ đừng nói gì đến 1 bí thư đảng ủy công ty như ông Thăng lúc đó. Cụ thể như những dự án lọc dầu Dung Quất, dự án Bô-xít Tây nguyên, v.v… luôn được công bố là chủ trương lớn của đảng, tức của BCT. Đặc biệt vụ thua lỗ đầu tư tại Venezuela được quàng lên đầu một mình ông Thăng, trong khi Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh và các lãnh tụ VN khác đều công khai thúc giục gia tăng quan hệ đầu tư với Venezuela vào thời gian đó.
– Và sau hết, tại sao ông Nguyễn Phú Trọng trong suốt hơn 5 năm qua luôn chận các yêu cầu xử phạt nội bộ với các lý do “đánh chuột sợ vỡ bình quí”, không thể để cảnh”ta đánh ta”, v.v. nhưng nay lại bất cần bình quí và đánh luôn một ủy viên BCT đương nhiệm?
Với những dấu hỏi cực lớn đó, khó ai tin các lý do kỷ luật ông Thăng mà lãnh đạo đảng vừa công bố. Chắc chắn đó chỉ là cái cớ chứ không phải lý do.
Chỉ có một lời giải có thể thỏa mãn được tất cả các câu hỏi trên. Đó là cuộc tranh quyền quyết liệt trước đại hội đảng giữa nhiệm kỳ sắp tới. Đặc biệt trong lần này nó còn là nhu cầu mang tính sống còn của ông Trọng. Có xác suất cao ông Trọng sẽ bước xuống khỏi ghế Tổng Bí Thư và vì thế đây là cơ hội chót để ông phải tận diệt những kẻ có tiềm năng trả thù khi ông không còn chức quyền.
Tóm lại, ông Trọng mới là cái bình quí nhất bên trong cái bình quí của đảng. Ông sẽ bảo vệ cái bình bản thân đó bằng mọi giá, kể cả cái giá có thể làm nứt cái bình bao bên ngoài.
Ông Trọng cũng đã khá thận trọng và theo sát cách “đả hổ đập ruồi” của Tập Cận Bình – Vương Kỳ Sơn, tức loại trừ dần những Từ Tài Hậu, Bạch Hy Lai, Chu Vĩnh Khang, v.v. để nhích dần đến cái đích Giang Trạch Dân. Cụ thể, ông Trọng đã loại trừ dần những Trịnh Xuân Thanh, Vũ Huy Hoàng, và nay Đinh La Thăng, … để nhích dần đến Đồng chí X.
Nhưng đó là chuyện giữa các lãnh tụ tối cao với nhau. Còn tập thể cán bộ bên dưới, trong giai đoạn “trâu bò húc nhau” này họ cần học gì qua vụ việc Đinh La Thăng bị tế thần?
Có lẽ 3 bài học sau đây hệ trọng nhất:

Thứ Sáu, 17 tháng 3, 2017

Người thân thủ tướng Phúc

___
Phạm Hồng
16-3-2017
Hiệu trưởng Nguyễn Khắc Minh tại một buổi hội thảo. Ảnh: Trường ĐHKT Y – Dược Đà Nẵng
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc từng tuyên bố hùng hồn rằng: “Tôi báo cáo trước Quốc hội phải đổi mới công tác cán bộ, tôi đề nghị các đồng chí phải lưu ý điều này, việc này cần phải chấn chỉnh ở tất cả các khâu, tuyển chọn, sử dụng, bổ nhiệm, chúng ta thi tuyển để tìm người tài, chứ không phải để tìm người nhà. Đừng để nhiệm kỳ này tai tiếng về cán bộ”. (Nguồn: Vì sao Thủ tướng yêu cầu ‘tìm người tài, không tìm người nhà’?).
Thế nhưng phía sau lời nói bóng bẩy đó, ông Phúc đã nâng đỡ không biết bao nhiêu người thân, mà trong số đó có ông Nguyễn Khắc Minh – Hiệu trưởng trường Đại học Kỹ thuật Y dược Đà Nẵng hiện nay.
Vốn là bộ đội phục viên, Nguyễn Khắc Minh đi học lại và tốt nghiệp bác sỹ hệ tại chức ngành Y học cổ truyền (Đông y). Với bản chất lươn lẹo, cơ hội và nịnh bợ, cộng với sự thối tha của hệ thống đào tạo Việt Nam, Minh đã lấy được học vị tiến sỹ, nhưng lại là chuyên  ngành Y tế Công cộng.
Khi còn là lãnh đạo tỉnh Quảng Nam, ông Phúc đã nâng đỡ và đưa ông Minh lên đến chức vụ Hiệu trưởng trường Cao đẳng Y tế Quảng Nam. Với bao nhiêu điều tiếng của đồng nghiệp phản ảnh, bản chất ông Minh là nịnh trên, đạp dưới; về năng lực thì thấp kém nên luôn thể hiện thái độ nịnh hót các vị ở Bộ Y tế – cơ quan chủ quản trường, song lại sẵn sàng chà đạp, trù dập những thầy, cô bác sỹ liêm khiết, thẳng thắn, nhất là các bạn đồng nghiệp giỏi, chuyên ngành Y đa khoa – Một ngành mà có vị thế và đòi hỏi kiến thức chuyên môn sâu rộng rất nhiều so với Y tế công cộng của ông Minh.
Còn về mặt đạo đức, bản chất lưu manh, ăn nói giang hồ, lộng ngôn của ông ngày càng lộng hành; bản chất máu gái, thèm của lạ nên hầu hết các giảng viên nữ trẻ rất ái ngại khi gặp ông, nhất là tại phòng làm việc.
Những đặc điểm, tính cách con người của ông Nguyễn Khắc Minh chắc chắn ông Phúc thủ tướng biết rõ, những ông vẫn cho qua. Khi làm đến chức Phó Thủ tướng, ông tiếp tục nâng đỡ rút ông Minh ra và yêu cầu Bộ Y tế bổ nhiệm ông Minh làm Hiệu trưởng trường Đại học Kỹ thuật Y dược Đà Nẵng của chúng tôi. Và từ đó, Nguyễn Khắc Minh cùng nhóm cơ hội, nhóm thân quen do ông cài cắm vào, mặc sức lũng đoạn, đục khoét và phá nát trường chúng tôi; và điều đau lòng là công sức gây dựng của bao thế hệ từ lãnh đạo, thầy cô đồng nghiệp chúng tôi trong suốt gần 60 năm qua đã bị phá nát. Trong số đó, một số thầy cô đã mất (như thầy Quang), một số phải bỏ việc, chuyển công tác (như thầy Ngọc)… Và đau đớn nhất là Thầy PGS. TS Hoàng Ngọc Chương – người đã có công lèo lái, gây dựng đưa trường vốn từ trường Trung cấp KTYT TW2 lên trường Cao đẳng và tiếp tục nâng thành đại học như hôm nay. Nhưng khi ông Minh nắm ghế hiệu trưởng đã phủ nhận sạch trơn công sức những người tiền nhiệm, trong đó có công sức thầy Chương.
Đi đâu, ngồi với ai, trong buổi tiệc nhậu nào, ông Minh cũng đều mang quan hệ người nhà Thủ tướng Phúc ra dằn mặt, khoe khoang. Và ông ta đã tự tung tự tác, vô hiệu hóa tập thể Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường, tự quyết tất cả các chủ trương, chính sách hòng mang lại lợi ích nhất cho ông.
Tất cả các khoản mua sắm, chi tiêu rất mờ ám, nhất là công tác phí cao ngất ngưởng, mà ông ta bóng gió nói rằng dùng để phong bì bôi trơn cho mấy vị ở Bộ để mở ngành này, ngành nọ. Ông ta đục khoét ngân sách trên cơ sở mồ hôi, nước mắt của chúng tôi; mua hàng loạt đất, mua ô tô… Thu nhập của chúng tôi giảm từ 40 – 60%, trong khi số lượng tuyển sinh hàng năm đều tăng 15 – 20% (có nghĩa là khoản học phí cũng tăng theo).

Thứ Năm, 2 tháng 3, 2017

...dựng tượng đài Hồ Chí Minh bất thành tại nước Áo



Đặng Hà
25-2-2017
Ảnh 1: Bức tượng Hồ Chí Minh cao hơn 2 mét (kể cả bục) dự định được đặt trong công viên Donau tại thủ đô Viên của nước Áo. Ảnh: Đặng Hà
Ảnh 1: Bức tượng Hồ Chí Minh cao hơn 2 mét (kể cả bục) dự định được đặt trong công viên Donau tại thủ đô Viên của nước Áo. Ảnh: Đặng Hà
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Áo, nhà nước Việt Nam mong muốn tặng thủ đô Viên của nước Áo một bức tượng bán thân Hồ Chí Minh, dự định được đặt trong công viên Donau. Mặc dù đã được cấp giấy phép, nhưng trước làn sóng chỉ trích, chống đối dữ dội thành phố Viên đã rút lại quyết định, đình chỉ dự án này.
Hội Hữu nghị Áo-Việt
Dự án thành lập tượng đài HCM được xúc tiến bởi Hội Hữu nghị Áo-Việt (một tổ chức thân nhà nước Việt Nam) có trụ sở ở thủ đô Viên của Áo. Năm ngoái ngày 03.08.2016 hội Hữu nghị Áo-Việt đã vui mừng thông báo trên trang web chính thức của hội rằng, thành phố Viên đã cấp giấy phép xây dựng tượng đài trong công viên Donau tại thủ đô Viên của nước Áo.
Chi phí xây dựng tượng đài ở công viên Donau sẽ do phía Việt Nam đảm nhận. Khi hoàn tất sẽ bàn giao cho giới hữu trách thành phố Viên quản lý, chăm sóc và bảo trì.
Dự kiến tượng đài Hồ Chí Minh sẽ được khánh thành vào cuối năm nay nhân kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Áo-Việt (1/12/1972 – 1/12/2017).
Ông Marcus Strohmeier thành viên Hội đồng quản trị của hội Hữu nghị Áo-Việt đồng thời là đảng viên của đảng SPÖ (đảng Dân chủ Xã hội Áo) là người đi vận động hành lang (Lobby) để chính quyền thành phố Viên cấp giấy phép cho dự án.
Ông từng trả lời phỏng vấn truyền hình ngày 06.12.2014 về đề tài quân đội nhân dân Việt Nam và ông đem ra khoe bức ảnh chụp ông hân hạnh được tiếp kiến đại tướng Võ Nguyên Giáp, người học trò xuất sắc của chủ tịch HCM.

Làn sóng phẫn nộ của người Việt khắp nơi trên thế giới
Thời gian kéo dài cho đến đầu năm 2017, mọi việc tưởng chừng như trôi chảy êm xuôi, chỉ còn chờ lễ khánh thành tượng đài HCM vào cuối năm nay. Nhưng vài ngày trước Tết ta, tổ chức Diễn đàn Việt Nam 21 ở Đức đã phát giác ra dự án này, lập tức viết thư phản đối gửi đến chính quyền thủ đô Viên của Áo và báo động cho đồng bào không những ở nước Đức mà khắp nơi trên thế giới. Trong kháng thư gửi đến chính quyền thành phố Viên được nhấn mạnh: “Chúng tôi chống xây dụng tượng đài Hồ Chí Minh vì quan niệm rằng tệ trạng sùng bái cá nhân, một dấu hiện nhận diện ra độc tài, dành cho một nhân vật chính trị và lịch sử mờ ám không phù hợp cho khung cảnh chính trị của xã hội dân chủ-tự do ở Áo.
Ngay sau đó Liên hội người Việt tỵ nạn tại CHLB Đức đã tổ chức thu chữ ký khắp nơi trên thế giới phản đối dự án này, đồng thời viết thư phản kháng gửi đến chính quyền Áo, các chính đảng và liên lạc với các hội đoàn người Việt ở Áo để kết hợp đấu tranh.
Hội Việt-Áo Văn Hóa và Dân Chủ đã phối hợp với các hội đoàn người Việt tị nạn cộng sản ở Áo, ở châu Âu để làm kiến nghị phản đối gửi đến các giới chức, dân biểu Áo và báo chí truyền thông.
Ngoài ra còn có nhiều hội đoàn và đoàn thể cũng như nhiều cá nhân khi hay tin đã nhiệt tình dấn thân góp phần đấu tranh dẹp bỏ tượng đài HCM.
Đặc biệt là Hội Việt Áo Văn Hóa và Dân Chủ đã vận động chính giới Áo rất thành công và có sự kết hợp làm việc chặt chẻ giữa Hội Việt Áo Văn Hóa và Dân Chủ và Liên hội người Việt tỵ nạn tại CHLB Đức.
Bùng nổ làn sóng chỉ trích, phê phán ở Áo
Nhờ vào các hình thức phản đối và đấu tranh nêu trên của người Việt tỵ nạn tại Áo vả Đức cũng như từ khắp nơi trên thế giới, chính giới và báo chí Áo đã chú ý đến dự án thành lập tượng đài HCM này.
Sau khi tuần báo Falter là tờ báo đầu tiên ở Áo đưa tin về dự án thành lập tượng đài HCM với câu hỏi: Tại sao lại như thế ?” thì báo chí nước Áo bắt đầu nhập cuộc.
Tờ báo Krone viết: “Vô số tội phạm chiến tranh, Hàng triệu người chết, tra tấn có hệ thống và khủng bố đẫm máu. Bảng thành tích đầy xác người này rõ ràng  là điều kiện lý tưởng để được vinh danh với một tượng đài ở thành phố Viên“, và bài báo trích lời của nữ ký giả trên tuần báo Falter: “thành phần 68 (phản chiến) trong cánh tả của tòa thị chính thủ đô Viên lại quên không nhắc đến những chiến dịch thanh trừng, những phát súng bắn vào gáy, những màn tra tấn ghê tởm nhất đối với những phi công Mỹ bị bắt hay những trại tù cải tạo cộng sản của Hồ Chí Minh”.

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2017

Cuộc chiến Vị Xuyên






5 năm sau khi kết thúc cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung (vào 16/3/1979), ngày 2/4/1984 CHNDTH lại gây ra cuộc chiến với Việt Nam ở khu vực Vị Xuyên thuộc tỉnh Hà Tuyên và kéo dài đến 5 năm mới thực sự chấm dứt (từ 2/4/1984 đến tháng 4/1989).
Lần này Đặng Tiểu Bình tự đặt tên cho cuộc chiến là “Phản công tự vệ”, nhằm đánh chiếm 1 phần lãnh thổ của Việt Nam rộng khoảng 50 Km2, đang thuộc quyền Việt Nam quản lý, nằm trong huyện Vị Xuyên, thuộc Hà Giang của tỉnh Hà Tuyên. Ông ta lập luận phần đất này xưa kia là của Trung Quốc, nay họ đánh chiếm lại.
Căn cứ bản đồ tỉ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương (thời thuộc Pháp) xuất bản vào những thập niên 30, 40 và 50 của thế kỷ 20 và bản đồ tỉ lệ 1/50.000 của Mỹ đã xuất bản thì phần đất đó thuộc lãnh thổ Việt Nam, nằm bên trong đường biên giới, Suối Thanh Thủy và Sông Lô (xem bản đồ kèm theo). Bản đồ do Sở Địa dư Đông Dương xuất bản được lập theo công trình phân giới và cắm mốc tại vùng biên giới khu vực tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, liên quan đến địa bàn Vị Xuyên thuộc Hà Giang của Việt Nam, thực hiện theo biên bản Pháp – Thanh phân giới số 3, ký kết ngày 13/6/1897 (Bản sao bản đồ của Sở Địa dư Đông Dương do nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn sưu tầm từ tài liệu lưu trữ của Trung tâm văn khố Hải ngoại Pháp ở Aix-en Provence, gửi từ Pháp đăng trên BBC ngày 16/7/2016).
Địa bàn cuộc chiến và lực lượng mỗi bên:
Địa bàn chiến sự nằm trong phần đất được gạch chéo trên bản đồ, giới hạn bởi đường biên giới, Suối Thanh Thủy và Sông Lô, trong đó 2 điểm cao (đánh dấu ngôi sao) đã xảy ra những trận giao tranh rất khốc liệt là điểm cao 1509 phía Việt Nam gọi là Núi Đất, phía Trung Quốc gọi là Lão Sơn và điểm cao 1250 phía Việt Nam gọi là Núi Bạc, phía Trung Quốc gọi là Giả Âm Sơn. Địa bàn cuộc chiến này có chiều dài khoảng 20 Km chạy theo đường biên giới, vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,5 Km, tương ứng với chiều dài Suối Thanh Thủy và đường biên giới. Khoảng cách giữa đường biên giới và Suối Thanh Thủykhoảng 2,5 Km.
Lực lượng mỗi bên:
– Trung Quốc: Theo tài liệu của Trung Quốc công bố, từ 1984 đến 1989, họ đã huy động vào cuộc chiến này 17 sư đoàn bộ binh, 5 sư đoàn và lữ đoàn pháo binh thuộc các đại quân khu Côn Minh, Nam Kinh, Phúc Kiến, Tế Nam, Lan Châu, Thành Đô. Tổng số quân Trung Quốc thay nhau tham chiến khoảng nửa triệu người, trong đó nhiều đơn vị đã được huấn luyện chuyên nghiệp, không còn là những nông dân chân đất cầm súng như hồi họ gây ra chiến tranh biên giới với Việt Nam năm 1979.
 Việt Nam: đã huy động nhiều đơn vị chủ lực thay nhau tham chiến. Các đơn vị tham chiến thuộc quân khu 1 là trung đoàn 2 của sư đoàn 3, trung đoàn 567 của sư đoàn 322. Các đơn vị thuộc quân khu 2 là các sư đoàn bộ binh 313, 314, 316, 356, các đơn vị pháo binh, xe tăng, đặc công, công binh, thông tin, vận tải của quân khu 2, trung đoàn 247 của tỉnh đội Hà Tuyên, trung đoàn 754 của tỉnh đội Sơn La. Đặc khu Quảng Ninh có trung đoàn 568 thuộc sư đoàn 328 tham chiến. Các đơn vị chủ lực thuộc Bộ tham chiến có sư đoàn 31, sư đoàn 312, sư đoàn 325. Ngoài ra còn nhiều đơn vị cấp đại đội, tiểu đoàn trực tiếp tham chiến hoặc hỗ trợ chiến đấu.
Diễn biến cuộc chiến:

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2017

Chính khách Trần Tuấn Anh




Lịch sử Việt Nam chưa từng có hai cha con đều là tội đồ của dân tộc; tuy nhiên sẽ có, nếu “Formosa 2” trở thành hiện thực.
____
Đỗ Mai Lộc
30-1-2017
                  Bộ trưởng Bộ Công thương, Trần Tuấn Anh. Nguồn: VNN
Bộ trưởng Bộ Công thương, Trần Tuấn Anh.  


Nhiệm kỳ Chính phủ trước, nổi lên một Đinh La Thăng, Bộ trưởng Giao thông Vận tải với những phát ngôn làm dậy sóng dư luận. Nhiệm kỳ Chính phù này, từ “vụ Trịnh Xuân Thanh” dẫn đến “nguyên” Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng, và lôi theo những vụ ì xèo như: chạy chức, thất thoát, … của Bộ Công thương làm điểm nhấn của dư luận.
Dư luận xã hội quan tâm đến Bộ Công thương, Bộ trưởng bây giờ là ông Trần Tuấn Anh; muốn biết ông Trần Tuấn Anh sẽ giải quyết hậu quả cũ và chính sách mới của Bộ Công thương như thế nào?
Việc đầu tiên mang tính chất chiến lược với tư cách Bộ trưởng là ông Trần Tuấn Anh quyết tâm quy hoạch bằng được “Dự án thép Hoa Sen Cà Ná – Ninh Thuận”. Dự án này, nếu thực hiện sẽ tác động rất lớn đến vùng kinh tế Nam Trung Bộ và Tây Nguyên và ảnh hưởng đến cả nước ít nhất là 3 thế hệ.
Trên Wikipedia tiếng Việt, ngay dòng đầu tiên ghi “Trần Tuấn Anh (sinh ngày 6 tháng 4 năm 1964) là một chính khách Việt Nam”. Vì vậy, tìm hiểu về “chính khách Trần Tuấn Anh” qua những gì ông ta đã nói và làm được để hiểu được “tâm và tầm” của người quyết tâm quy hoạch bằng được Dự án Thép.
1. Trần Tuấn Anh nói: “Trước khi là một Bộ trưởng, tôi cũng là một công dân và chúng ta bình đẳng trước pháp luật.” (https://goo.gl/nYwtVq)
Điều này được hiểu là (a) từ khi ông làm Bộ trưởng thì không còn là “công dân” nữa. (b) “Bộ trưởng” và “công dân”: chúng ta bình đẳng trước pháp luật.
Phân tích (a): “Trước khi là một Bộ trưởng, tôi cũng là một công dân” tức là từ khi làm Bộ trưởng thì không còn là “công dân” nữa.
– Hiến pháp 2013, Điều 17.1 “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam.”. Phải chăng ông đã từ bỏ “quốc tịch Việt Nam” và có một quốc tịch khác? Nếu không thì ông đã không nói “Trước khi …”, mà sẽ nói: “Dù là một Bộ trưởng, tôi cũng là một công dân”.
– Nếu cố gắng hiểu nghĩa theo cách các quan chức hay nói với dân là: “trước khi là cán bộ, tôi cũng là một người dân” để thể hiện sự gắn bó, đồng cảm với nhân dân. Thì:
Ngược đòng thời gian trở về trước, xem ông Trần Tuấn Anh đã làm “dân” khi nào?
Ông có quá trình làm việc trải qua nhiều cơ quan quản lý nhà nước (https://goo.gl/0s4WZx).
  • 01/1988-4/1994: Chuyên viên Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
  • 4/1994-6/1999: Chuyên viên Vụ Kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
  • 6/1999-6/2000: Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách công nghiệp, Bộ Công nghiệp.
  • 6/2000-5/2008: Phó Vụ trưởng, rồi Quyền Vụ trưởng, sau đó làm Vụ trưởng Vụ Tổng hợp kinh tế, Giám đốc Quỹ Ngoại giao phục vụ kinh tế, Bộ Ngoại giao; Tổng Lãnh sự Việt Nam tại San Francisco (Mỹ).
  • 5/2008-8/2010: Thành ủy viên, rồi Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ.
  • 8/2010-01/2016: Ủy viên ban Cán sự Đảng, Bí thư Đảng ủy Bộ, Thứ trưởng Bộ Công Thương, kiêm Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương.
  • Giai đoạn 15/8/2011-11/9/2013: Hiệu trưởng trường Đại học công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh.
  • 26/01/2016 Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • 01/2016-4/2016: Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Cán sự Đảng, Bí thư Đảng ủy Bộ, Thứ trưởng Bộ Công Thương, kiêm Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương.
  • 4/2016: Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII, được Quốc hội phê chuẩn, Chủ tịch nước bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Công Thương.