Thứ Sáu, ngày 16 tháng 9 năm 2016

Vừa là Tử huyệt vừa là Sinh lộ

Nguyễn Việt Anh Tất cả các đại dự án tại VN hiện nay đều có yếu tố nước ngoài & nó vừa là “tử huyệt”, vừa là “sinh lộ” của chế độ. Nó cũng là liên minh quyền-tiền nhưng vấn đề của nó nghiêm trọng hơn ta tưởng. 

Chấp nhận cho đầu tư những dự án đó, các quan chức thừa biết là sẽ gây ra các tác hại khủng khiếp & lâu dài cho đất nước, nhưng họ ko thể ko làm. Nói họ “ngậm miệng ăn tiền” là chưa đủ. Họ bị ép phải làm. “Cây gậy & củ cà-rốt” đã được các thế lực nước ngoài đưa ra. Trách nhiệm ko thể chỉ quy cho dàn lãnh đạo đương thời. Các chính sách cùng với một tư duy kinh tế - sai từ trong trứng nước - của chủ nghĩa cộng sản trong quá khứ đã đem tới hậu quả như bây giờ. Sự phá sản ko công bố của kinh tế VN từ sau 1975 - kéo dài sang thập niên 1990 & hiện nguyên hình khi kinh tế thế giới khủng hoảng năm 2008 - đã bắt buộc chính quyền đi vay nợ nước ngoài liên miên (Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ, Nhật, Tây Âu) dưới mọi hình thức để chi tiêu, mà lại còn chi tiêu như phá nên dẫn đến tình trạng nợ công ko thể cứu vãn. (Nhập siêu từ Trung Quốc tăng cả trăm lần trong những năm qua cũng chính là một dạng nợ công). Nợ công tăng nhanh khiến áp lực đi vay để chi tiêu càng lớn.

Trên thực tế chính quyền VN đã vợ nợ từ lâu. Để tiếp tục tồn tại, để được cho vay tiếp, họ buộc phải "bán đất", "bán nước" trả nợ bằng cách nhắm mắt phê duyệt những đại dự án dưới áp lực tài chính của các chủ nợ nước ngoài có liên hệ “bạch tuộc” với các thế lực tài phiệt xuyên quốc gia, cùng những ưu đãi đầu tư “vượt khung” & ko hề phải chịu sự kiểm soát nào về an ninh, quốc phòng, kinh tế, môi sinh & sức khỏe cộng đồng... Xem ra, các thế lực ngoại quốc đang rất biết cách thao túng chế độ “thực dân bản xứ” này để biến VN ta thành “bãi rác”, thành “ổ dịch”, thành “đống phân” của thế giới công nghiệp.

VD: Liên Xô sau 1975 đã ép Hà Nội chấp nhận những dự án dầu khí lớn để đưa hàng loạt chuyên gia (cùng với bầu đàn thê tử của họ) sang VN mà chính người VN lúc đó cũng có thể đảm nhận những vị trí đó & bắt VN phải trả tất cả chi phí sinh hoạt. Nhật Bản thì cuối thập niên 80 với những thứ hàng thải, hàng bãi như ti-vi, xe máy, tủ lạnh, cát-xét, ... ồ ạt tập kết vào VN đã làm cho dân VN một thời mờ cả mắt. Trung Quốc còn ma giáo hơn nhiều, những dự án nhiệt điện, thủy điện, xi-măng, sắt thép, phân bón, cầu cống, … “type China” nhan nhản từ Nam ra Bắc & “siêu dự án giao thông xuyên Á trên sông Hồng” ồn ào vừa qua là minh chứng mới nhất. Còn ông bạn Obama mới đây cũng “lịch thiệp đề nghị” được tham gia vào lãnh vực điện hạt nhân ở VN (hiệp định 123) v.v.

Nói chung, tình trạng của chính quyền VN hiện nay là “tứ bề gặp địch”. Một chính quyền ko phải của dân, ko do dân bầu, ko vì dân & bị chính dân mình khinh ghét, chẳng sớm thì muộn cũng sẽ rơi vào “vòng tay” của các thế lực ngoại quốc là lẽ tất nhiên, Ko thể khác được!

Chủ Nhật, ngày 11 tháng 9 năm 2016

Formosa Hà Tĩnh không phải đơn thuần là thảm họa môi trường

Nguyễn Đăng Quang
10-9-2016
Việc cho phép Formosa vào Việt Nam và giao cho nó 2 địa điểm tối quan trọng về an ninh-quốc phòng (Vũng Áng và cảng nước sâu Sơn Dương) ở Hà Tĩnh là một sự khờ dại rất khó hiểu của lãnh đạo nước ta – ở địa phương và cả ở Trung ương – vì nếu Trung Quốc động binh thì Vũng Áng, Sơn Dương sẽ là 2 “tử huyệt”chết người, nó sẽ ngay lập tức chia cắt và cô lập 2 miền Nam-Bắc, và quyền kiểm soát đất nước sẽ nhanh chóng rơi vào tay quân thù!  Đại tướng Đỗ Bá Tỵ, nguyên Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN, hiện là Phó Chủ tịch Quốc Hội, đã nhìn thấu vấn đề khi ông tuyên bố trước Ủy ban Thường vụ Quốc Hội hôm 11/7/2016: “Vụ Formosa tiềm ẩn lâu dài nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề Quốc phòng – An ninh!”. Bài viết này không đề cập đến chủ đề trên, và cũng không bàn về hậu quả kinh tế – xã hội, về di tác hại môi trường cũng như về đời sống khốn khó của ngư dân. Bài viết chỉ bàn đến việc làm sao tháo được ngòi nổ quả bom nhiệt hạch Formosa Hà Tĩnh (FHS) mà nó đang và trực chờ phát nổ bất cứ lúc nào!   
Trước hết, phải khẳng định việc cá chết hàng loạt suốt dọc 205km bờ biển 4 tỉnh miền Trung là “thảm họa môi trường”, chứ không phải là “sự cố môi trường” như FHS và Chính phủ đã dụng ý đặt tên cho nó, hơn nữa đây là việc xả thải cố ý nhằm thử nghiệm việc đầu độc con người và hủy diệt môi trường chứ không phải là sự cố vô tình do mất điện! Việc Chính phủ nhanh chóng nhận 500 triệu USD bồi thường của Formosa là chuyện đã rồi, nhưng xét cho cùng, đấy chỉ là sự dàn xếp và thỏa hiệp song phương giữa FHS Hà Tĩnh và Chính phủ, vì trong thảm họa này, chủ thể chính bị hại là hàng triệu ngư dân cùng hàng trăm doanh nghiệp của 4 tỉnh miền Trung – nạn nhân trực tiếp của thảm họa này – đều bị gạt ra ngoài, không một ai được tham vấn, tham khảo và cũng chẳng được tham dự! Do vậy cuộc khủng hoảng chưa thể nói là đã êm xuôi! Đã gần 2 tháng rưỡi sau cuộc họp báo Chính phủ (30/6/2016), tình hình có lắng xuống, song cuộc khủng hoảng chưa hề kết thúc, nó đang âm ỉ và sẽ bùng phát bất cứ lúc nào! Nếu Chính phủ KHÔNG xử lý hình sự và trừng phạt kẻ thủ ác, KHÔNG đóng cửa vĩnh viễn Formosa, KHÔNG buộc nó bồi thường thỏa đáng và trực tiếp cho ngư dân cùng các doanh nghiệp, thì quả bom nhiệt hạch FHS Hà Tĩnh chắc chắn sẽ phát nổ một ngày rất gần! 

Ai sẽ đền bù cho người dân Miền Trung sau thảm họa Biển nhiễm độc

JB Nguyễn Hữu Vinh
11-9-2016
Sự lần khân và vội vã đáng ngờ
Sau mấy tháng dài im hơi, lặng tiếng tìm nhiều cách lấp liếm, bao che cho thủ phạm đầu độc Biển Miền Trung gây nên thảm họa môi trường đẩy hàng chục triệu người dân, vào bước đường cùng, chính phủ Việt Nam cuối cùng cũng phải tuyên bố: Thủ phạm đầu độc môi trường là Formosa.
Sự bao che, lấp liếm và đổ lỗi hết thủy triều đỏ cho đến những nguyên nhân nghe nực cười, nhất là việc bố trí cảnh sát và công an các loại canh phòng người dân, bảo vệ Formosa trước khi chịu công bố thủ phạm gây thảm họa, nhà cầm quyền Việt Nam đã cho người dân hiểu được họ đã và đang đứng về phía nào.
Điều nực cười, là trước khi công bố thủ phạm là Formosa, nhà cầm quyền Việt Nam chưa hề điều tra về thảm họa, về những thiệt hại người, của, môi trường, cuộc sống của người dân thì họ đã nhanh nhẩu nhận 500 triệu đô la “bồi thường” của Formosa. Trong khi đó, việc điều tra cứ lần khân rồi hứa hoãn đến tận 15/9 mới công bố những thiệt hại do Formosa gây ra – Hẳn nhiên là chưa biết họ sẽ công bố những gì!
Câu hỏi đặt ra là: Vì sao nhà cầm quyền Việt Nam vội vàng nhận 500 triệu đola mà không cần điều tra? Thậm chí, người thiệt hại là người dân nhưng nhà cầm quyền không hề hỏi han xem họ thiệt hại ra sao, chết người như thế nào và những vấn đề liên quan thì mức độ bồi thường như thế nào? Việc làm này, chẳng khác gì việc mấy ông thầy bói mù sờ voi và phán bậy.
Trong khi, chính họ đã tuyên bố điều tra nguyên nhân cá chết có thể phải đến hàng năm. Vậy hậu quả sự cùng cực của người dân, cũng như những cái chết của họ do sự đầu độc gây ra thì họ có phép thần thông của mà vương quỷ sứ?
Xin thưa là không, họ đã vội vàng nhằm khỏa lấp tảng băng chìm đằng sau sự kiện hủy hoại môi trường biển Miền Trung. Chỉ có điều sự khỏa lấp đó chưa đủ để người dân thấy “như thật” rằng đây là một chính phủ của dân.
Đền bù hay hỗ trợ?
Chính phủ Việt Nam đã dẫn Formosa vào đất nước này, nói theo ngôn ngữ dân gian, là đã “rước voi về giày mả tổ”, họ phải chịu trách nhiệm gì trước nhân dân, và họ đã làm gì?
Cho đến nay, chính phủ Việt Nam dù đã nhận 500 triệu đola, thì người dân vẫn chưa biết được họ sẽ được đền bù như thế nào? Trong khi đó, từ đầu thảm họa đến nay, chính phủ chỉ công bố các biện pháp hỗ trợ!
Vậy hỗ trợ là gì?
Theo đúng từ điển Tiếng Việt, “Hỗ trợ” là động từ có nghĩa là giúp đỡ lẫn nhau, giúp đỡ thêm vào”. Do vậy, việc chính quyền hỗ trợ người dân  chỉ là sự giúp đỡ người dân trong lúc khó khăn và sự giúp đỡ này hoàn toàn không thể thay thế được cái cốt yếu người dân đang cần, mà chỉ là sự “thêm vào” khi khó khăn. Cần phải hiểu cho rõ nghĩa như vậy kẻo nhầm lẫn.

Thứ Tư, ngày 31 tháng 8 năm 2016

Độc lập là độc lập nào?

LS Đặng Đình Mạnh
31-8-2016
Hồ Chí Minh và Marius Moutet ký tạm ước Việt - Pháp ngày 14/9/1946, sau Hội nghị Fontainebleau
Hồ Chí Minh bắt tay Marius Moutet sau khi ký tạm ước Việt – Pháp ngày 14/9/1946 ở Hội nghị Fontainebleau
Việt Nam bước vào thế kỷ 20 với tư cách một xứ thuộc địa của nước Pháp.
Tư cách thuộc địa chấm dứt và Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập vào ngày 11/03/1945 khi Cựu Hoàng Bảo Đại (khi ấy là Hoàng Đế) ban hành Đạo dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam, thống nhất đất nước. Trong tuyên cáo có đoạn viết : “chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này, Hòa ước Bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập”.
Đến ngày 02/09/1945, một lần nữa sau chưa đầy sáu tháng, Ông Hồ Chí Minh lại công bố bản “Tuyên ngôn độc lập” tại Quảng trường Ba Đình.
Với Cựu hoàng Bảo Đại, Ông tuyên bố độc lập để khẳng định xứ sở đã thoát khỏi thân phận thuộc địa. Nhưng với Ông Hồ Chí Minh, Ông cũng tuyên bố độc lập để khẳng định đưa xứ sở thoát khỏi điều gì ?
Trở lại bối cảnh xứ sở khi ấy, “mẫu quốc” là nước Pháp thì đã không còn quyền lực hoặc vai trò ở Việt Nam sau khi bị Nhật Bản đảo chính ở từ đầu tháng 03/1945. Bản thân Nhật Bản thì tuyên bố đầu hàng đồng minh từ ngày 15/08/1945. Thời điểm ngày 02/09/1945, đất nước đang độc lập trong thực tế lẫn pháp lý, không nằm dưới sự thống trị của ngoại bang, thì chẳng lẽ, Ông Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập để khẳng định đưa xứ sở thoát khỏi thoát khỏi nền độc lập mà cựu hoàng Bảo Đại đã tuyên bố trước đó sáu tháng ?
Chưa kể, về phương diện kế thừa nhà nước của công pháp quốc tế, thì chính quyền sau hoàn toàn thừa kế trọn vẹn những quyền và nghĩa vụ của chính quyền trước đó. Thế nên, nếu chính quyền của Cựu Hoàng Bảo Đại đã xác lập pháp lý về nền độc lập cho quốc gia, thì chính quyền của Ông Hồ Chí Minh sau đó mặc nhiên kế thừa tính pháp lý của nền độc lập đó, sự kế thừa không ít hơn và cũng không nhiều hơn.
Việc một quốc gia hai lần tuyên bố độc lập trong khoảng thời gian chưa đầy sáu tháng là tiền lệ chưa từng có trên thế giới, nhất là khi nền độc lập được tuyên bố lần đần đầu vẫn còn nguyên giá trị pháp lý và chưa từng bị xâm phạm hay được phục hồi sau khi bị xân phạm !
Nói khác, Ông Hồ Chí Minh đã tuyên bố độc lập trong hoàn cảnh thực tế của đất nước đang độc lập và đã từng được chính quyền tuyên bố khẳng định bằng một văn bản pháp lý trước đó chưa đầy sáu tháng.
Sau khi Cựu Hoàng Bảo Đại đọc chiếu thoái vị, chấm dứt chính thể quân chủ, thì ngày 02/09/1945, khi công bố bản Tuyên ngôn độc lập, thì bên cạnh việc tuyên bố độc lập vốn không cần thiết, thì mặt khác, Ông Hồ Chí Minh cũng tuyên bố thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa. Và chính đây mới là nội dung quan trọng có giá trị lịch sử đặc biệt sau hàng nghìn năm xứ sở sống dưới chính thể quân chủ tập quyền. Theo đó, lần đầu tiên trong lịch sử lập quốc, người dân đã trở thành chủ nhân của đất nước thay vì là một ông vua cho rằng mình là thiên tử, tức con trời “thế thiên hành đạo”

Thứ Hai, ngày 08 tháng 8 năm 2016

Chọn cá hay chọn thép



Nguyễn Duy Vinh
7-8-2016
A. Những nghi vấn quanh vụ phơi bày sự việc bởi Formosa Hà Tĩnh ngày 30 tháng 06:
Khi nói đến những lò đốt quặng mỏ khổng lồ, người ta có thể mường tượng đến những bất trắc rủi ro (tiếng Việt mới bây giờ người trong nước hay dùng hai chữ “sự cố”) rất lớn trong lúc chuyển vận các dung dịch sắt (chảy) nóng bỏng từ những lò đốt có nhiệt độ cao (1600 độ C) và các dung dịch xả thải. Ngoài ra còn phải kể đến những tấn quặng mỏ rắn được chuyên chở mỗi ngày bởi những xe vận tải lớn (loại xe 10 tấn hay xe ben) từ những bãi quặng sắt rắn đến thẳng lò nung hay đến những đoàn tàu xe lửa có bánh sắt (wagon) để được chở đến lò nung. Việc phòng ngừa tai nạn, việc bảo trì vật liệu và dụng cụ máy móc và việc cứu thương khẩn cấp là những nghiệp vụ rất quan trọng trong việc thiết bị một nhà máy công nghệ nặng như nhà máy luyện gang thép Formosa Hà Tĩnh.
Những hệ thống báo động khi rủi ro được phát hiện nằm trong chương trình thiết kế và hoàn bị của nhà máy là chuyện cần thiết không thể thiếu. Mỗi khi một bất trắc xảy ra (cả ngàn thứ có thể xảy ra như chất lỏng thép chảy ra ngoài tung tóe, nổ lớn khi dung dịch lỏng được đổ sang lò làm nguội, vật liệu hỏng, dụng cụ máy móc ngừng chạy, nhiệt độ lên cao hơn bình thường, có người bị thương cần cứu chữa khẩn cấp, điện tắt bất thình lình đưa đến những chuỗi rủi ro khác, nước hay ốc xi thất thoát hay vượt ngưỡng an ninh v.v…), hệ thống an ninh tự động lập tức báo động ầm ĩ (rung chuông hay còi hụ) và đồng thời tự động cho lệnh (qua những hệ thống tin học mà chữ nước ta gọi nôm na là phần mềm) đóng sầm những van (valves) ở những cửa tiếp liệu chiến lược để tránh cung cấp thêm những chất có thể làm trầm trọng thêm tình huống ở nhưng nơi đang có đổ vỡ xảy ra.
Thêm vào đó, những công nhân và những chuyên viên làm việc cho các nhà máy luyện thép, từ những phu khuân vác cho đến các bác tài lái những chiếc xe vận tải khổng lồ, từ những anh cán sự (technicians) đến những viên chức lo việc bảo trì và quan trắc (chữ mới trong nước, tiếng Anh là monitoring), từ những cai gác tuần hành đêm ngày đến những ông quản lý ngồi trong những văn phòng có máy lạnh, tất cả đều phải được thụ huấn và được dự thường xuyên những buổi học về vấn đề an ninh và an toàn nhà máy, về hệ thống bảo trì và về những điều phải làm khi có rủi ro quan trọng xảy ra. Một hệ thống bảo trì tốt và một hệ thống an ninh tự động có kỹ thuật cao và đã được thử nghiệm kỹ càng là hai yếu tố vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm an toàn cho nhân viên cũng như cho việc giữ gìn công nghiệp tốt đẹp bền vững về lâu về dài của nhà máy [1].
Ngày 30 tháng 06, Formosa Hà Tĩnh thông báo lý do gây ra thảm họa môi trường trầm trọng ở Vũng Áng làm chết trên 250 cây số biển của 4 tỉnh miền Trung là do sự mất điện trong 5 ngày liên tiếp và việc các nhà thầu phụ làm việc có lỗi lầm ở nhà máy. Formosa Hà Tĩnh đã không cho biết một chi tiết khoa học nào về sự liên hệ giữa những lý do được công bố và sự tống phun chất độc qua ống ngầm. Vì muốn phun ra cả triệu lít dung lượng xả thải, chắc chắn phải nhờ vào các máy bơm chạy bằng điện bơm những dung dịch này sâu vào lòng biển Việt Nam qua một ống ngầm dài 1.7 km có đường kính rộng trên 1 mét. Những máy bơm khổng lồ này lấy điện từ đâu để chạy nếu có sự mất điện? Những lý do Formosa Hà Tĩnh đưa ra khiến tác giả bài viết này có những suy nghĩ và nghi vấn sau :
  1. Cho là Formosa Hà Tĩnh nói thật: “Sự thật” này, nếu được kiểm chứng, là một bằng chứng hùng hồn cho thấy hệ thống báo động an ninh và an toàn tự động của Formosa Hà Tĩnh có vấn đề. Hệ thống phát hiện rủi ro của nhà máy Formosa Hà Tĩnh không an toàn và thiếu tính chủ động (fail-safe) để ngăn chặn kịp thời những chuỗi bất trắc khác có thể xảy ra (và đã xảy ra) sau đó.
  2. Hoặc là Formosa Hà Tĩnh nói dối: Vụ thảm họa môi trường xảy ra là vì Formosa Hà Tĩnh đã cố tình xả thải bừa bãi vào biển vì họ biết nhà nước Việt Nam đang dễ dãi và dung túng họ và nhà nước này sẽ tìm mọi cách để bảo vệ họ. Tưởng tượng cả mấy triệu lít dung dịch xả thải cực độc mỗi ngày được phun ào ạt ra biển từ cái ống ngầm, trong 5 ngày liên tiếp, mà chẳng ai hay biết gì cả là một chuyện thật khó tin.

Thứ Hai, ngày 01 tháng 8 năm 2016

Hám danh hiệu




Đoàn Khắc Xuyên
31-7-2016

Người dân Việt Nam đang đối mặt với nhiều yếu tố mất an toàn. Ảnh: MTG/ internet.
Người Việt có hám danh hiệu không? Chắc là có. Cứ xem cái cách người ta chạy và tự sướng với đủ thứ danh hiệu, kể cả danh hiệu hão, thì rõ. Và cái họa có khi đi liền ngay với danh hiệu hão.
“Việt Nam đứng thứ 5 trong danh sách 10 nước hạnh phúc nhất thế giới”. Đây là kết quả đánh giá về Chỉ số Hành tinh Hạnh phúc do Quỹ Tân Kinh tế học (NEF) – một quỹ không mấy ai biết ở Anh – bình chọn và đưa ra. Chỉ số này đo lường mức độ hạnh phúc của một nước dựa trên sự no đủ, tuổi thọ và bất bình đẳng xã hội rồi chia cho mức độ tác động đến sinh thái của đất nước. Báo Independent của Anh hôm 21.7 đưa tin và sau đó nhiều báo trong nước lập tức đưa lại. Cần nói thêm, năm 2012 cũng chính NEF đã xếp Việt Nam đứng hạng thứ 2 thế giới và tất nhiên cũng được nhiều báo trong nước hồ hởi đưa lại.
Tuy nhiên, Tiến sỹ Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội tại Hà Nội, trả lời phỏng vấn VOA, chỉ ra rằng phương pháp phỏng vấn, lấy mẫu ở Việt Nam của NEF có thể không đúng.
Tôi cho rằng tất cả các tiêu chí đó của Việt Nam đều có vấn đề. Tuổi thọ của Việt Nam cũng không phải là cao. Về môi trường thì rõ ràng là có quá nhiều vấn đề. Việc khai thác tài nguyên của Việt Nam từ trước đến nay rất là không bền vững. Việt Nam đang ở trong thời kỳ mà cái phân tầng xã hội nó càng ngày càng lớn. Ở Việt Nam có một số những người rất giàu, còn lại có những người rất nghèo. Cái bất bình đẳng tôi nghĩ nó khá là rõ. Nếu mà nói về bình đẳng thì cũng rất là khó để xếp Việt Nam ở một cái top cao của hạnh phúc. Tôi cảm thấy những cái đánh giá, nghiên cứu đấy có thể rất có vấn đề về phương pháp”, bà nói với đài VOA.
Theo Tiến sỹ Hồng, để biết người Việt có cảm nhận hạnh phúc hay không, cần tập trung vào các yếu tố sau: “Hiện nay có lẽ thiết thực nhất là chữ an toàn. An toàn đây là nói an toàn trong thực phẩm, an toàn giao thông, an toàn trong môi trường xã hội. Những cái mâu thuẫn xã hội hiện nay rất dễ dàng bùng nổ. An toàn nói chung ở Việt Nam bây giờ tôi nghĩ là rất là có vấn đề. Tôi nghĩ đối với người Việt Nam thì có lẽ đấy là một trong những vấn đề hết sức là ưu tiên. Thế rồi là vấn đề ô nhiễm môi trường. Cái môi trường sống hiện nay cũng không an toàn. Môi trường tự nhiên đang bị phá hủy”.
Cũng cần chú ý đến các dịch vụ xã hội cơ bản như dịch vụ giáo dục, y tế. Các khảo sát của chính một số cơ quan ở Việt Nam gần đây đã chỉ ra rằng người dân Việt Nam “hoàn toàn không hài lòng” về các dịch vụ này. Bà Hồng kết luận: “Nếu mà các vấn đề an toàn như tôi vừa nói đang có vấn đề, rồi những dịch vụ xã hội cơ bản cũng chưa đáp ứng thế thì khó có thể nói là người Việt Nam cảm thấy hạnh phúc được”.
Nói “sùng bái” có lẽ hơi quá, nhưng việc một số phương tiện truyền thông trong nước hào hứng với các xếp hạng kiểu như của NEF cho thấy không ít người Việt rất sính danh hiệu, hám danh hiệu, tìm mọi cách để có được danh hiệu này danh hiệu kia và dễ dàng tự sướng về một danh hiệu nào đó được trao. Thực chất ra sao không quan trọng, miễn có danh hiệu. 
Những danh hiệu như của NEF trao cho Việt Nam có vẻ “vô hại”, ngoài tác dụng ru ngủ. Nhưng có những thứ danh hiệu mà người muốn có phải bỏ tiền ra mới có được, như rất nhiều thứ danh hiệu thượng vàng hạ cám mà không ít doanh nhân Việt Nam đang bị cuốn vào, bỏ tiền mua lấy. Hoặc những danh hiệu “văn hóa” (như gia đình, khu phố, ấp, xã văn hóa) hay “nông thôn mới” đầy tính hình thức mà nhiều địa phương đeo đuổi và có khi không phải không tốn tiền, thậm chí mang nợ mới có được để rồi chẳng làm gì với những danh hiệu ấy.

Thứ Tư, ngày 27 tháng 7 năm 2016

Cá chết ,Sản cũng băng hà



Trường Sơn
27-7-2016
Người dân VN xuống đường phản đối Formosa gây ra thảm họa cá chết hàng loạt. Ảnh: internet
Người dân VN xuống đường phản đối Formosa gây ra thảm họa cá chết hàng loạt. Ảnh: internet
Khi số tiền phúng 500 triệu USD chưa kịp chia, nhà cầm quyền CSVN đã phải đối mặt với làn sóng phản đối quyết liệt của nhân dân 4 tỉnh miền Trung với quyết định thoả hiệp khoản đền bù của chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Thông điệp đưa ra thật rõ ràng “500 triệu USD không đủ tiền mua quan tài cho dân Việt”.  
Vấn đề sinh kế thay thế không hề đơn giản như chính quyền nghĩ. Giải pháp xuất khẩu lao động ra các thị trường nhân công rẻ tiền trong khu vực như Lào hay Cambodia cho 300.000 hộ ngư dân là bất khả thi. Ngư dân nhiều đời gắn bó với biển, quanh năm chỉ biết chài lưới và môi trường tự do rất khó có thể tiếp thu nghề nghiệp khác và phục vụ cho các ngành nghề công nghiệp ở xứ người chưa kể các khác biệt về ngôn ngữ, văn hoá. Lý do khách quan quan trọng nhất cần nhắc đến là nhu cầu và tiêu chuẩn của thị trường nhân công của các nước có chấp nhận lực lượng lao động này hay không? Cho nên, chiêu bài “ưu tiên xuất khẩu lao động cho ngư dân miền Trung” chỉ là trò diễn vụng về chống cháy mà thôi. Cấu trúc kinh tế vùng bị phá vỡ không chỉ làm sụp đổ những nền tảng kinh tế tư nhân và doanh nghiệp địa phương mà còn kéo theo tất cả các hệ luỵ xã hội. Dù “con cá gỗ” có nhãn “500 triệu USD” to tướng được treo lên thì người dân ở trong những vùng bị ảnh hưởng không thể nào ngửa cổ chép miệng và nuốt cơm trắng với muối. Chưa kể đến có những địa phương, gạo cứu đói bị bớt xén và muối trắng cũng không còn vì dân không dám ăn muối ở trong vùng nguồn nước biển đã bị ô nhiễm.
FORMOSA dù đã chi tiền nhưng nguyên nhân vấn đề thì vẫn nguyên đó như một khúc xương chẹn ngay cổ, ngay cả đối với những ông chủ của doanh nghiệp lẫn chính quyền Hà Nội. Khúc xương này không dễ nuốt một chút nào. Nếu tiếp tục hoạt động thì phải xả thải. Nếu không xả dưới biển thì phải thải trên bờ. Giải pháp chôn lấp như “mèo giấu cứt” thì nó vẫn thối inh lên mỗi khi người dân và cộng đồng mạng phanh phui ra. Còn nếu đầu tư toàn bộ hệ thống xử lý môi trường đồng bộ để đảm bảo an toàn thì số tiền khổng lồ đó quá sức với doanh nghiệp và chi phí giá thành sản phẩm đội lên không còn đảm bảo tính cạnh tranh. Khả năng bỏ của chạy lấy người xem ra khó mà chấp nhận được chưa kể các mục đích phía sau bài toán đầu tư kinh tế mà người ta vẫn đoán già đoán non bấy lâu nay về khu phức hợp kinh tế khổng lồ này.
Những ngày qua, tâm điểm của công luận là ông Võ Kim Cự. Vị đương kim Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã, thành viên ban kinh tế TW, và đại biểu quốc hội khoá 13 này đã có những cuộc trả lời phỏng vấn báo chí “trơn tuột” với những lý lẽ “lấy thúng úp voi” hết sức trôi chảy. Vấn đề ở chỗ, nguyên tắc của thể chế “tập thể lãnh đạo” có nghĩa là không ai sẽ có trách nhiệm cụ thể gì trong thảm hoạ môi trường ở Vũng Áng. Rõ ràng với sự chấp thuận của thủ tướng chính phủ, ban nội chính TW, các bộ trọng yếu như quốc phòng, an ninh và 12 bộ ngành chức năng thì việc chịu trách nhiệm duy nhất là ông Cự là điều phi lý. Với một “bản lĩnh chính trị” mà ông Cự thể hiện chuyện biến ông thành “dê tế thần” không đơn giản và bài học của Phạm Quí Ngọ, Nguyễn Bá Thanh vẫn còn mới. Kịch sẽ còn nhiều tập nhưng áp lực của công luận và cơn đói khát của 4 triệu cái bao tử thì không nhỏ chút nào và xem ra người dân không thể đủ kiên nhẫn để ngồi xem.
Hà Nội đang đứng trước một tình huống thật nguy nan chưa từng có, kể từ khi cơn khủng hoảng địa chính trị khi Đông Âu và khối XHCN sụp đổ trở lại đây. Có 5 nguy cơ thực sự đều có khả năng làm chính phủ Nguyễn Xuân Phúc có thể rơi vào khủng hoảng trầm trọng không lối thoát.